Inside Out (IO) là một trong những phim thú vị nhất từ trước đến giờ của Pixar và đạo diễn Pete Docter, người nhào nặn nên những tựa phim tuyệt vời như Up, Wall-E và Toy Story. Người ta hay đùa Pixar thích công thức ”What if […] had feelings?” để làm phim, hết bọ lại cá rồi đến chuột và cả robot, cả núi lửa cũng biết yêu (phim Lava khuyến mãi trước IO). Với IO, Pixar chơi một cú level mới, inception luôn cả cảm xúc ”Nếu cảm xúc có cảm xúc …”, với thành quả là một bộ phim nhẹ nhàng thư giãn, khiến tui vô cùng thoải mái khi xem mà vẫn để lại nhiều điều hay ho đáng suy nghĩ.
Quên, nên đọc tiếp sau khi xem phim.
Câu chuyện của IO khá đơn giản, khai thác những biến chuyển cảm xúc của cô bé Riley 11 tuổi khi cùng gia đình chuyển đến nơi ở mới. Motif rất quen thuộc, nhưng cách truyền tải câu chuyện của Riley qua những tương tác lý thú của các nhân vật cảm xúc (Joy, Sadness, Fear, Disgust, Anger) đã đem lại một tinh thần tươi mới và hấp dẫn cho người xem. Một điểm đáng khen khác là thế giới của các cảm xúc trong Inside Out được xây dựng dựa trên khoa học thần kinh. Các chi tiết như những kệ tủ chứa ký ức, ký ức thiết yếu (core memories), các khu vực Dream, Subconcious v.v đều là những hình tượng hóa tuyệt vời cách bộ não chúng ta hoạt động. Tui sẽ dịch sơ một bài về khoa học trong IO đăng trên New York Times để mọi người có cảm hứng tìm hiểu thêm về cái cục đậu hũ nhiều nếp nhăn trong đầu mình 😉
Đánh giá chung: 9/10
+ Thế giới cảm xúc rất thú vị
+ Animation tuyệt hảo
– Đoạn kết hơi vội và không đủ độ cảm xúc cần thiết
KHOA HỌC TRONG INSIDE OUT
Dịch từ The Science of Inside Out (NYT: Xem link)
Dacher Keltner – giáo sư tâm lý học trường University of California, Berkeley
Paul Ekman – giáo sư danh dự tâm lý học trường University of California, San Francisco
Năm năm trước, biên kịch và đạo diễn Pete Docter của Pixar đến gặp chúng tôi và bàn về ý tưởng một bộ phim. Anh muốn mô tả cách mà các cảm xúc khác nhau diễn ra trong đầu chúng ta và cùng lúc đó, cách chúng ảnh hưởng đến cách chúng ta tương tác với người khác ngoài đời. Pete dự định kể câu chuyện này với nhân vật chính là một cô bé 11 tuổi đang đối diện với một vài ngày khó khăn trong đời.
Với tư cách là những nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về cảm xúc hàng thập kỷ, chúng tôi vui vẻ nhận lời trở thành đội tư vấn khoa học cho bộ phim Inside Out, vừa ra rạp gần đây.
Cuộc nói chuyện giữa chúng tôi và đạo diễn Docter chủ yếu xoay quanh những nền tảng khoa học liên quan đến chủ đề chính của phim: làm cách nào mà các cảm xúc điều khiển sự nhận thức của con người? Cảm xúc làm thay đổi cảm giác của chúng ta với một ký ức ra sao? Đời sống cảm xúc của một cô bé 11 tuổi diễn ra thế nào? (Các nghiên cứu cho thấy ở tuổi 11, các cảm xúc tích cực giảm đi trông thấy về tần số cũng như cường độ.)
Inside Out kể về năm cảm xúc (nhân hóa thành Joy – vui thích, Disgust – chán ghét, Fear – sợ hãi, Anger – giận dữ và Sadness – buồn rầu) tương tác với nhau và giành quyền điều khiển đầu óc của cô bé 11 tuổi Riley trong giai đoạn gia đình cô bé chuyển nhà từ Minnesota đến San Francisco. (Một trong số chúng tôi đề nghị thêm vào nhiều cảm xúc đa dạng khác nữa, nhưng Docter từ chối vì câu chuyện của ông chỉ có thể kham nổi năm đến sáu nhân vật).
Tính cách của Riley được làm nổi trội nhất thông qua Joy, và điều này hợp lý về mặt khoa học, với những gì chúng ta đã biết. Nghiên cứu cho thấy vài cảm xúc nhất định sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn nhận thế giới, bày tỏ bản thân cũng như cách người khác tương tác với chúng ta – tóm lại là cách chúng ta định hình cái tôi của bản thân.
Nhưng ngôi sao thực sự của bộ phim là Sadness, vì IO là một câu chuyện về sự mất mát và những gì con người đạt được khi bị nỗi buồn xâm chiếm. Riley mất đi bạn bè và ngôi nhà thân quen khi rời khỏi Minnesota. Chua chát hơn là sự mất mát tuổi thơ khi Riley bắt đầu vào độ tuổi teen.
Chúng tôi đúng ra hơi bất đồng về cách Sadness được miêu tả trong IO. Sadness bị xem là một thứ phiền phức và chậm chạp, suốt ngày phải để Joy chỉ bảo và kéo lê đi khắp nơi. Trong khi thực sự, nỗi buồn được cho là có liên quan tới sự đánh thức sinh lý cao (elevated physiological arousal), kích thích cơ thể đáp lại mất mát. Trong phim, Sadness lôi thôi lếch thếch và khó gần, còn ngoài đời, nỗi buồn lại thường thu hút những người khác tới giúp đỡ và cảm thông hơn. (TL Note: thật ra điều này không đúng vào cuối phim, khi Joy nhận ra sự quan trọng của Sadness)
Bỏ qua những vấn đề nhỏ ở trên, Sadness đã rất thành công trong việc thể hiện hai yếu tố quan trọng trong khoa học cảm xúc.
Đầu tiên, cảm xúc cấu thành suy nghĩ logic hơn là phá vỡ chúng. Một quan niệm truyền thống phương Tây là cảm xúc là kẻ thù của suy nghĩ hợp lý và làm gián đoạn các mối quan hệ hợp tác trong cộng đồng.
Thế nhưng, thật sự là cảm xúc hướng dẫn cách chúng ta nhìn nhận thế giới, cách chúng ta nhớ lại những ký ức, cách chúng ta đánh giá đúng sai, điển hình nhất là trong các trường hợp cần phản hồi hiệu quả. Ví dụ, nghiên cứu chỉ ra rằng khi tức giận, chúng ta bị hút tới những thứ không công bằng chúng ta thấy, và điều đó kích thích hành động để sửa đổi những bất công đó. (TL Note: giống như khi xem đá banh, thấy tức giận vì trọng tài bắt ngu vãi, ta thường có ý muốn bóng đá áp dụng công nghệ cao để giảm đi các tình huống tương tự)
Chúng thấy điều này trong IO. Sadness dần dần kiểm soát suy nghĩ của Riley về những thứ diễn ra xung quanh cô bé, đặc biệt khi Sadness làm ám xanh ký ức của Riley về tuổi thơ ở Minnesota. Khoa học nhận thấy rằng cảm xúc làm thay đổi những gì chúng ta nhớ về quá khứ. Đây là chức năng vô cùng quan trọng của Sadness trong phim: hướng dẫn Riley đối diện với những thay đổi và mất mát, cùng với đó chuẩn bị để phát triển những mặt tính cách mới của mình.
Thứ hai, cảm xúc giúp sắp xếp đời sống xã hội của con người, thay vì làm rối loạn nó. Nghiên cứu cho thấy, ví dụ, cảm xúc cấu trúc nên các cách tương tác khác nhau giữa bố mẹ và con cái, giữa những người trẻ tán tỉnh nhau và cả đàm phán giữa các đối thủ.
Các nghiên cứu khác lại cho thấy chính sự tức giận (hơn là bản ngã chính trị) là ngọn nguồn của những hoạt động xã hội để thay đổi những điều bất công. Một nghiên cứu của chúng tôi thực hiện chỉ ra rằng sự xấu hổ kích thích người khác tha thứ khi chúng ta làm một việc trái với quy tắc xã hội.
Chi tiết này cũng được đưa vào phim. Bạn có thể hay nghĩ rằng nỗi buồn đại diện cho sự thụ động và thiếu đi những hành động có ý nghĩa. Thực tế, cũng như trong IO, nỗi buồn là gợi ý để mọi người hợp lực đối đầu với mất mát. Chúng ta thấy điều này khi Riley bực tức bỏ lên phòng trong bữa ăn và người bố không biết phải làm gì với cô con gái. Và cho đến cuối phim, chính Sadness đã giúp cho cả gia đình hòa hợp trở lại, với những âm thanh và đụng chạm cảm xúc (forms of touch and emotional sounds – vocal bursts) thể hiện sự mừng rỡ khi tái hợp.
IO là một cách khai thác nỗi buồn mới. Điểm quan trọng nhất: hãy chào đón nỗi buồn và để nó diễn tiếp, và hãy kiên nhẫn tìm hiểu những bất đồng cảm xúc của trẻ tuổi teen. Nỗi buồn đánh dấu những gì đã mất (tuổi thơ) và giúp cho gia đình hướng tới tương lai: nền tảng cho những con người mới, của cả bố mẹ và đứa trẻ.






Bình luận về bài viết này